
Lâu nay, trong giới nhạc sĩ chuyên nghiệp lan truyền điều ngộ nhận về cơ cấu âm điệu của âm nhạc Tây Nguyên. Sự nhận biết không hay này cũng lây sang những người sáng tác không chuyên và những người muốn cải tiến nhạc khí dân tộc Tây Nguyên.
Do không nghiên cứu, người ta thường gán cho âm nhạc Tây Nguyên, nói chung, và âm nhạc Bâhnar, nói riêng một thang âm “Âu hóa”, thường ghi ở giọng D trưởng (Rê trưởng – D dur) bỏ bớt các âm Mi, Si để trở thành giọng Rê 5 âm có chứa hai quãng nửa âm giữa Fa thăng và Sol, giữa Đô thăng và Rê. Tính chất “Âu hóa” còn thể hiện ở chỗ họ đồng nhất giá trị độ cao của các âm cùng tên trong các quãng 8 khác nhau. Do đó, âm Fa thăng và âm Đô thăng là chung cho tất cả các quãng 8.
Với những bài hát được sáng tác theo cơ cấu này, người viết nghĩ rằng mình đang dùng cái chất liệu ấy như nó hằng tồn tại, và cho là mình đang tiếp cận trung thực với vốn ca nhạc dân gian cổ truyền.
Nhiều nhạc sĩ muốn chuộng thang âm điều hòa, dùng thang âm này để so sánh với thang âm dân gian, dân tộc cổ truyền. Gặp những âm già, âm non – do nhấn nhá trên dây đàn, do nống hơi trong nhạc khí thổi ( chẳng hạn, âm Đô thăng ¼ cung – âm Fa thăng ¼ cung, âm La thăng ¼ cung mà không là Sib) trong dân ca, trong ca nhạc kịch hát dân tộc cổ truyền (thang âm ai, oán), họ dùng thước đo thang âm Châu Âu để đo đạc, và thường kết luận hơi xô bồ, nào là “âm không chuẩn”, âm “faux”, âm “màu sắc”, âm “phụ”, dựa vào vòng ngũ độ tương sinh (cycle de quinte) mà xét với nhạc khí là chất liệu tre, nứa, gỗ, dễ khô, ẩm theo thời tiết đổi thay v.v…
Nhiều người cải tiến nhạc khí, định âm cho các âm đặc biệt ấy, trên các ống tre, ống nứa của tr’ưng, chinh chêng (cồng chiêng), lên giây theo hàng âm thanh điều hòa.
Về vấn đề này, chúng ta lắng nghe ý kiến của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát(1) “Tôi không chịu cách nói đó trong học thuật, nói rằng cái tai của Phương Tây là khoa học, của ta là không khoa học. Nhưng ác thay, cũng vì vậy, thang âm điều hòa cố định lại các âm thanh, làm mất đi nhiều vẻ tinh vi, tế nhị, huyền diệu của một tiếng đàn. Khúc chiết đấy, có vẻ khoa học đấy, nhưng nó lại không có được những cái mà phương Đông ta có được trong cung bậc. Hãy nhấn lên mấy tiếng đàn tranh mà xem, hãy vỗ vào cái cần đàn bầu Việt Nam mà thử xem, nếu cần một nét nhạc chuyển, thì nó chuyển lúc nào không ai biết nữa, vì nó có những cung rất nhỏ, nhỏ hơn cả 1/3 cung, nó lướt nhẹ khác nào như thi sĩ nói là gió nhẹ hôn lên bông hồng, nó có những cái gân ví như tiếng gợn. Thoáng như tiếng chim trong trời rộng vậy !”
Những người làm mới âm nhạc dân gian Bâhnar, nâng những âm thanh ¼ cung lên thành những âm thanh ½ cung, đã không nhận biết vẻ đẹp riêng và màu sắc độc đáo của hàng âm thanh Bâhnar. Những âm thanh ¼ cung cùng với những quãng âm trung tính do chúng tạo nên, làm cho âm điệu âm nhạc dân gian Bâhnar có vẻ đẹp mờ ảo, pha chút huyền bí, rất thích hợp để diễn tả phương pháp tư duy nhận thức có tính chất huyền thoại của con người.
Giới âm nhạc phấn khởi với việc UNESCO công nhận KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN là di sản văn hóa thế giới. Ở vài phương tiện truyền thông và một số báo chí thường nêu là công nhận CỒNG CHIÊNG hoặc VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG, hơi bị quên tên gọi đúng trên đây.
Nghĩ rằng việc nhắc lại vài ý nghĩ về thang âm Bâhnar đã được GS-TS Tô Ngọc Thanh nêu lên trước đây (2) là cần thiết với người sáng tác và với những người muốn “làm mới” cồng chiêng hiểu rõ, nhìn nhận cho đúng cái mà vẫn hiểu sai, góp vào việc gìn giữ KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN.
Trương Đình Quang-Theo Non Nước
(giaidieuxanh.com.vn)
(giaidieuxanh.com.vn)