“Opéra” là một loại hình nghệ thuật có khả năng đề cập tới rất nhiều khía cạnh của cuộc sống và nhiều vấn đề mang tính hiện thực xã hội. Nó có thể có nội dung thần thoại, lịch sử và hiện thực...như một tác phẩm văn học. Từ khi ra đời cho đến nay, opéra đã có một vị trí quan trọng trong việc truyền bá rộng rãi nghệ thuật âm nhạc nói chung, góp phần cho việc thúc đẩy sự phát triển của các loại khí nhạc nói riêng.
Ban đầu, opéra chỉ được trình diễn trong cung đình, phục vụ cho tầng lớp quí tộc châu Âu. Người đầu tiên có công trong việc đưa opéra đến với công chúng là nhạc sĩ Claudio Monteverdi với những vở opéra mang nội dung thần thoại như “Orfeo”(1607) và “Sự trở về của Ulysses”(1640). C.Monteverdi đã khai thác và sử dụng một cách phóng khoáng các khúc hát đơn (aria), hát nói (recitativo), hát đôi (duo), đồng ca...mở đầu cho sự hình thành một phong cách sáng tác mới của các nhạc sĩ sau ông.
Opéra không chỉ hình thành và phát triển mạnh ở Ý với những tên tuổi quen thuộc: G.Verdi, G.Rossini, V.Bellini, G.Donizetti...mà còn phát triển mạnh ở các nước khác như: ở Đức với L.V.Beethoven, R. Strauss, J.Brahms...; ở Pháp với G.Bizet, Ch.Gounod; C.Debussy...; ở Áo với W.Mozart, F.Schubert, A.Buckner...; ở Nga với M.Glinka, P.I.Tchaikovski, M.Moussorgski, N.Rimsky-Korsakov, S.Rachmaninov, D.Shostakovitch, S.Prokofiev...;ở Việt Nam, vào những năm 60 của thế kỷ 20, nhạc sỹ Đỗ Nhuận đã sáng tác hai vở nhạc kịch mang tên “Cô Sao” và “ Người tạc tượng”, nhạc sỹ Nhật Lai với vở “Bên bờ sông Krôngpa”.
Điểm tên những vở nhạc kịch nổi tiếng trên thế giới, chúng ta không thể bỏ qua tác phẩm “Aida” của nhạc sỹ người Ý G.Verdi với nội dung lịch sử mang nhiều kịch tính và có nhiều đoạn hoành tráng, không chỉ trong âm nhạc mà còn trong thủ pháp dàn dựng sân khấu. Khi nói tới những vở nhạc kịch nổi tiếng thế giới thì vở nhạc kịch “Carmen” của G.Bizet luôn được nhắc tới. Nội dung vở diễn dựa trên một tiểu thuyết của nhà văn Pháp P.Merime. Lần đầu tiên, hình tượng một cô gái Tsigan với những quan điểm phóng khoáng trong tình yêu được đưa lên sân khấu. Khi mới ra đời, vở nhạc kịch gần như là một “ scandal” lớn trong xã hội đương thời. Có thể nói, đây là một trong những vở nhạc kịch thành công toàn diện từ nội dung kịch bản đến đến âm nhạc, lôi cuốn người xem từ đầu tới cuối.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc của công chúng cũng ngày một đa dạng và phong phú hơn, đòi hỏi nhạc sỹ phải sáng tác theo phong cách mới phù hợp với thời đại. Vở nhạc kịch “Notre Dame de Paris” của nhạc sỹ người Pháp gốc Ý R.Cocciante được viết dựa trên tiểu thuyết "Nhà thờ Đức Bà” của V.Hugo, với ngôn ngữ âm nhạc mới (pop music), đã đưa opéra đến với mọi tầng lớp công chúng. Điều thú vị trong phong cách sáng tác của ông là: mỗi bài hát đơn (aria), hát đôi( duo) và tam ca (trio)... đều có thể là một ca khúc độc lập với những giai điệu đẹp và dễ nhớ.
Opéra ngày một phát triển không chỉ về nội dung mà cả về hình thức. Dường như nhạc sỹ A.Lloyd Webber đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ âm nhạc giao hưởng hiện đại với pop-rock trong các tác phẩm của mình như vở nhạc kịch “Cats – now and forever”. Ông đã dùng hình tượng loài mèo để phản ánh xã hội con người. Do yêu cầu của nội dung vở diễn, các diễn viên tham gia bắt buộc phải là những nghệ sỹ tài ba “hát hay và múa giỏi”. Ngoài ra, bạn đọc còn có thể làm quen với nhiều vở nhạc kịch hiện đại như: “Les Misérables” của các nhạc sỹ Boublil và Shonberg; vở “Jesus Christ - super star”; “The Fantom of the Opéra”; “ Miss Saigon”; “Oklahoma”...của các nhạc sỹ A.L.Webber, Tim Rice...
Những vở nhạc kịch nêu ở trên và nhiều thể loại âm nhạc khác, bạn đọc có thể tìm mua DVD tại các cửa hàng băng đĩa nhạc ở Tp.HCM và Hà Nội.
Th.s-Nh.tr. Hoàng Điệp
LỊCH SỬ OPERA
Những vở Opera đầu tiên
Opera phát triển từ những đám rước và những hình thức giải trí âm nhạc phổ biến trong các triều đình châu Âu ở thế kỉ 16. Vở Opera thực sự đầu tiên được phỏng đoán là Dafne (1598) của Peri cho vương triều Medici ở Florence. Một nhạc sĩ opera thời kì đầu nổi tiếng hơn là Monteverdi. Những tác phẩm ban đầu của ông, bao gồm Orfeo (1607) được sáng tác cho triều đình của thành bang Mantua nhỏ bé của Ý; sau đó ông viết cho nhà hát opera công cộng đầu tiên được mở ra ở Venice năm 1637. Không kể đên những tác phẩm của Monteverdi, vở opera chính của thế kỉ 17 vẫn còn được trình diễn ngày nay là Dido and Aeneasv (1689) được viết bằng tiếng Anh của Purcell.
Thế kỉ 18
Opera thế kỉ 18 tiếp tục truyền thống của âm nhạc Baroque và bị thống trị bởi trường phái Ý. Không ngạc nhiên rằng những vở opera nghiêm túc được gọi là Opera Seria, trong khi những vở opera hài hước được gọi là Opera Buff a. Những vở opera được viết theo một phong cách phổ thông hơn, với những đoạn hội thoại nói, được gọi là Singspiel trong tiếng Đức, Opéra Comique trong tiếng Pháp và Ballad Opera trong tiếng Anh.
Opera Seria
Thể loại này có cốt chuyện dựa trên những câu chuyện lấy từ thần thoại và lịch sử. Vai diễn solo quan trọng thường do castrati (ca sĩ bị castrate từ lúc còn nhỏ để giữ cho giọng nữ cao) đảm nhiệm. Rất nhiều nhạc sĩ Đức thành công trong thể loại này, và những tác phẩm ngày nay vẫn còn được nhớ đến bao gồm Ariodante (1735) của Handel và Orfeo ed Euridice (1762) của Gluck, được viết như một nỗ lực để cải tổ lại hình thức Opera Seria. một đặc điểm âm nhạc đặc biệt chính là aria da capo, một bài hát solo lặp lại giai điệu chính với sự điểm xuyết đặc biệt. Những đoạn ngắn kết nối giữa các aria cũng được hát và thường được gọi là đoạn hát nói.
Opera Buffa
Những vở opera này có nội dung hài hước với những nhân vật bình thường, cốt chuyện thường gắn liền với sự cải trang và giả dạng, và những vai chính được biểu diễn với giọng tenor (nam cao) và bass (nam trầm) hơn là canstrati. Così Fan Tutte (1790) và Le Nozze di Figaro (The Marriage of Figaro, 1786) của Mozart thuộc thể loại này.
Ballad Opera và Singspiel
Vở Ballad Opera cổ điển là The Beggar's Opera (1728) được viết bằng tiếng Anh của John Gay, với những đoạn hội thoại nói và những bài hát theo giai điệu của những bản ballad cổ. Nó phổ biến đến nỗi trong một thời gian ngắn nó đã làm lu mờ opera Ý ở London. Singspiel là một thể loại tương tự của Đức mà những phần hát được liên kết với những đoạn hội thoại nói hơn là hát nói. Die Zauberflote (The Magic Flute, 1791) của Mozart phần nào được viết như là một vở Singspiel, nhưng với âm nhạc của Opera Seria cho những nhân vật phức tạp hơn, và toàn bộ hợp xướng của Opera Buffa, Fidelio (1805) của Beethoven có đoạn hội thoại nói của Singspiel, nhưng được phân loại như một vở "opera giải thoát" được Cách mạng Pháp truyền cảm hứng.
Thế kỉ 19
Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc trong thế kỉ 19, những đất nước khác nhau phát triển những truyền thống khác nhau. Ở Ý, những vở opera Bel Canto được phát triển từ truyền thống Opera Seria. Verdi, người vĩ đại nhất trong các nhà soạn nhạc Ý, bắt đầu sự nghiệp với một khuynh hướng tương tự, nhưng đã phát triển phong cách độc nhất vô nhị của riêng ông. Vào cuối thế kỉ, một trường phái hiện thực chủ nghĩa mới, hay Verismo, được phát triển. Trong lúc đó, ở Pháp, hai thể loại tương phản Opéra Comique và Grand Opera xuất hiện, trong khi ở Đức, Wagner phát triển một sự tiếp cận mới mang tính chất cách mạng. Những nhạc sĩ Nga và Czech sáng tác theo phong cách riêng đọc lập của họ, với ảnh hưởng nhỏ nhoi đầu tiên của truyền thống châu Âu to lớn hơn.
+Bel Canto
Phong cách opera được phát triển ở Ý vào đầu thê kỉ 19 tiếp tục truyền thống của Bel Canto hay "beautiful singing" được tìm ra trong những vai castrati của Opera Seria, nhưng kết hợp nó với những đặc điểm của Opera Buffa là có nhân vật chính giọng tenor và nhiều những cốt chuyện phong phú hơn. Vài ví dụ như Il Barbiere di Siviglia (The Barber of Seville, 1816) của Rossini, Norma (1831) của Bellini và L'Elisir d'Amore (The Love Potion, 1832) của Donizetti.
+Pháp - Grand Opera và Opéra ComiqueÍt khi được trình diễn ngày nay, Grand Opera là hình thức sân khấu nổi bật nhất đã từng được trình diễn, chủ yếu là ở nhà hát Opera Paris từ những năm 1820 đến 1860. Những tác phẩm này, ví dụ như Les Huguenots (1836) của Meyerbeer có năm màn dài, một vở ballet, một dàn diễn viên đồ sộ, ánh sáng và hiệu quả sân khấu gây ấn tượng mạnh mẽ. (Grand Opera ngày nay được biết đến chủ yếu như phần nền của vở opera phổ biến The Phantom of the Opera của Andrew Lloyd Webber). Opéra Comique là thể loại nhẹ nhàng hơn của opera Pháp, với hội thoại nói, và mặc dù có tên như vậy, vào cuối thế kỉ 19 nó thường khá nghiêm túc. Carmen (1875) của Bizet, cho dù mang cung cách bi kịch, vẫn thuộc về trường phái Opéra Comique.
+Verdi
Verdi là nhạc sĩ Ý vĩ đại nhất với sự nghiệp phong phú kéo dài nhiều năm từ buổi diễn đầu tiên của mình vào năm 1836 đến Falstaff vào năm 1893. Không bao giờ thuần uý lí luận, ông có thiên hướng cho những chủ đề đầy kịch tình và sự hiểu biết để viết cho giọng hát của con người như thế nào. Những vở opera thời kì đầu và giữa của ông tràn ngập những aria được hoan nghênh kéo dài đến mức dường như làm gián đoạn buổi biểu diễn và những bản hợp xướng đầy kịch tính; những vở opera ở giai đoạn giữa như Rigoletto (1851) và La Traviata (1853) cho thấy sự mô tả tính cách sâu hơn và một không khí ấn tượng. Những tác phẩm cuối cùng của ông: Otello (1887) và Falstaff (1893) có một sự hoà hợp lưu loát về yếu tố âm nhạc và kịch tính đã làm chúng trở thành những tác phẩm được tán thưởng mạnh mẽ của ông.
+Sự nổi lên của Wagner
Opera lãng mạn Đức ở đầu thế kỉ 19 (của những nhạc sĩ như Weber và Marschner) phát triển từ hình thức Singspiel trước đó, chịu ảnh hưởng của Opéra Comique của Pháp và với những âm bội siêu tự nhiên sinh động. Wagner khi mới bắt đầu sự nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của những tác phẩm này. Sau đó, ông đã từng bước phát triển những học thuyết mang tính chất cách mạng và sự rèn luyện của kịch nhạc. Những lời hát được viết cẩn thận của ông chủ yếu dựa trên những câu chuyện truyền thuyết, và có đặc điểm âm nhạc Leitmotif (bản thân Wagner không dùng thuật ngữ Leitmotif, nhưng nó được những nhà bình luận sau này sử dụng khi nghiên cứu tác phẩm của ông) mà mỗi người, mỗi địa điểm hay mỗi chủ đề trong vở kịch được giới thiệu bởi một điệu nhạc lặp đi lặp lại.
Dàn nhạc được giao cho một phần lớn trong những tác phẩm của ông đến nỗi cần một kiểu ca sĩ mới để có thể nghe được trên một cuộc đua trình diễn bằng nhạc khí. Ông có một nhà hát opera đặc biệt được xây dựng ở Beyruth để trình diễn những tác phẩm của ông, và vẫn là nhân vật vĩ đại nhất trong opera Đức. Những tác phẩm được tán thưởng của ông là chuỗi bốn vở opera cùng chủ đề để nghe vào bốn buổi tối liên tục: Das Rheingold (1869), Die Walkure (The Valkyrie, 1870), Siegfried (1876) và Gotterdammerung (The Twilight of the Gods, 1876).
Không nhạc sĩ hậu bối nào có thể thực sự làm theo lí thuyết về nghệ thuật kịch trong âm nhạc của Wagner, nhưng tác động to lớn của ông vào dàn nhạc, và sự tràn ngâp tiếp diễn của những tác phẩm của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến những nhạc sĩ Đức sau đó như Richard Strauss.
+Nước Nga và Đông Âu
Phong cách opera của cả Nga và Czech đều phát triển theo một truyền thống dân tộc mạnh mẽ. Cốt chuyện và cảm hứng được lấy từ lịch sử như trong Boris Godunov (1874) của Mussorgsky; văn học dân tộc như trong Eugene Onegin (1879) của Tchaikovsky, dựa theo truyện của Puskin, hay văn học dân gian và truyền thuyết như trong Rusalka (1901) của Dvorak. Dù sao, vì sự khó khăn về ngôn ngữ nên đến thế kỉ 20, những truyền thống nhạc kịch này mới được biết đến rộng rãi ở Tây Âu và nước Mĩ. (Cho dù như đã nói ở trên, những vở opera Nga và Czech đều có tiêu đề viết bằng tiếng Anh, trong khi ngôn ngữ nguyên gôc thì dùng cho những tiêu đề tiếng Ý, tiếng Pháp hoặc tiếng Đức).
+Verismo và Puccini
Verismo hay hiện thực chủ nghĩa là mục đích của một trường phái mới của những nhà soạn nhạc Ý vào khoảng cuối thế kỉ 19. "Chủ nghĩa hiện thực" này cũng hạn hẹp theo cách riêng của mình như cái phong cách mà nó thay thế, tập trung vào tội ác, cuộc sống hạ lưu tàn nhẫn và những tội lỗi của sự đam mê. Hai tác phẩm Verismo cổ điển là Cavelleria Rusticana (1890) của Mascagni và Pagliacciv (1892) của Leoncavallo. Nhạc sĩ Ý vĩ đại cuối cùng, Puccini, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Verismo trong những tác phẩm như Tosca (1900). Sự cư xử thô lỗ điển hình và thậm chí tàn ác của các nhân vật nữ chính của ông đã gây tranh cãi vào thời ấy, nhưng tác phẩm của ông vẫn phổ biến lâu dài.
Thế kỉ 20
+Đầu thế kỉ 20
Những xu hướng từ cuối thế kỉ 19 vẫn tiếp tục đến thế kỉ 20. Ở Pháp, Debussy soạn Pelléas et Mélisande (1902) mang đầy tính chất ảo mộng. Ở Đức, Richard Strauss chuyển sang opera, viết những tác phẩm vĩ đại như Salomé (1905), và Der Rosenkavalier (1911) theo phong cách Vienna nhẹ nhàng, hoài cổ hơn. Nhạc sĩ người Czech Leos Janacek soạn những tác phẩm như The Cunning Little Vixen (1924) và Katya Kabanova (1924) với nhiều tham khảo sinh động từ âm nhạc dân gian, và nhịp điệu của những âm hưởng thông thường. Trong những năm từ 1900 đến 1925, Puccni và trường phái Verismo của người Ý vẫn phát triển mạnh mẽ.
Lần ra mắt đầu tiên vở Turandot của Puccni vào năm 1926 (được Alfano hoành thành sau khi Puccni qua đời năm 1924), thường được ví là sự kiện vĩ đại cuối cùng của truyền thống opera cổ điển, nới mà một tác phẩm mới của một nhà soạn nhạc nổi tiếng có thể trông đợi thành công ngay lập tức.
+Giữa thế kỉ 20
Sau 1925, rất nhiều nhà soạn nhạc vẫn viết opera, nhưng họ hiếm khi nhận được sự tiếp nhận ngay lập tức từ giới đi xem opera. Thay vì một truyền thống chung phổ biến rộng rãi, đã có rất nhiều người, theo sau đó là những ý thưởng của riêng họ về sự tiến bộ trong những khuynh hướng riêng rẽ nhanh chóng. Alan Berg, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Schoenberg, đã viết hai tác phẩm với âm nhạc mộc mạc và cốt chuyện u buồn mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhạc jazz và các thể loại nhạc phổ biến khác, khi viết Die Dreigroschenoper (The Threepenny Opera, 1928). Một tác phẩm khác nằm trong ranh giới giữa opera và âm nhạc hiện đại là Porgy and Bess của Gershwin.
Ở Anh, Benjamin Britten đã nghiên cứu theo một số hướng, viết những vở opera cổ điển có quy mô lớn như Peter Grimes (1945) và Billy Budd (1951), nhưng cũng làm sống lại ý tưởng về opera thính phòng, có thể được giới thiệu một cách đơn giản bởi một dàn diễn viên nhỏ, ví dụ như The Turn of the Screw (1954).
Ở Nga, vở Lady Macbeth of Mtsens k (1936) tuyệt vời của Shostakovich bị báo Pravda (tờ báo Soviet hàng đầu thời ấy) công kích, và nhà soạn nhạc không bao giờ viết một vở opera nào khác nữa. Tránh khỏi sự kiểm duyệt này, cả Prokofiev và Stravinsky đều viết những vở opera thành công ở những nước khác.
+Cuối thế kỉ 20 và ngày nay
Những nhà soạn nhạc phổ biến nhất trong đại đa số khán giả ngày nay vẫn là Mozart, Wagner, Verdi và Puccini. Dù sao, chương trình biểu diễn đầy ắp của các nhà hát opera ngày nay vẫn luôn thay đổi hơn bao giờ hết, quay trở lại những tác phẩm thời kì đầu của Handel và Monteverdi, và tiến tới những kiệt tác phong cphú của thế kỉ 20.
http://tapchiamnhac.net/forum/index.php?showtopic=2443#http://tapchiamnhac.net/forum/index.php?ac...&qpid=20010
Xem lý lịch
Tìm bài viết của thành viên ipsmenu.register( "post-member-21210", '', 'popmenubutton-new', 'popmenubutton-new-out' ); 
* Opera: bi/hai kich duoc dien ta bang am nhac, bao gom nhung bai hat danh cho hop xuong, tam ca, song ca hoac don ca (solo), kem theo phan dê.m phụ họa cua dan nhac hoa tau, dong thoi dan nhac hoa tau cung doc dien trong phan mo man(prelude) va xen kẽ (entrance); cac dien vien mac nhung trang phuc thich hop voi vo kich.Opera có nguồn gốc từ những vỏ bi kịck hi lạp cổ đại , và đạt đến trình độ hoàn mĩ vào thế kỉ 16 do sự đóng góp của 1 nhóm nghệ sĩ gồm các nhà thơ, nhà soạn nhạc , ca sĩ tại florence, ý (1580)
* Operreta: co the goi la "tieu nhac kich", bao gom nhung yeu to tuong tu nhu Opera ("dai nhac kich"), nhung don gian va mang nhung chu de, the loai co tinh cach pho thong hon; co phan doi thoai noi.
* Aria: bai hat don ca (solo) trong 1 dai nhac kich (Opera)
* các giọng hát trong biểu diện opera:
- Soprano: giong nu cao
- mezzo soprano: giọng nữ trung
- alto: giọng nữ trầm
- tenor:giongj nam cao
- bariton: giọng nam trung
- bass : giọng nam trầm
- Ngoài ra còn có các loại giọng mang âm sắc đặc biệt như: giọng nữ cực trầm –Contralto (mang âm sắc pha trộn giữa Alto và Ténor) và giọng nam cực trầm- Octavist(có âm vực trầm hơn giọng Bass) (đọc trong bản fân vai của vở "die fledermaus thấy còn có cả giọng soprano,mezzo soprano(nữ cao và trung) dành cho nam ,1 số người - như nu ca si yma sumac có cả giọng female bariton(nam trung)" ngộ thiệt)
* nhà hát opera lớn nhất :nhà hát opera metropolitan(new york) được xây dựng năm 1966 được coi là nhà hát opera lớn nhất thế giới vo 3800 chỗ ngồi , 1 sảnh dài 452 feet, sân khấu biểu diễn rộng 234f dài 147f
* mozart được coi là nhà soạn nhạc opera vĩ đại nhất.ông đã viết vở opera đầu tiên khi mới 11 tuổi (vở "Apollo et Hyacinthus")
* vở opera vĩ đại nhất :“Don Giovanni”- mozart được nhiều nhà fê bình đánh giá là vở opera hay nhất do sự kết hợp tài tình giữa bi kịch và hài kich .Đây là 1 câu chuyện về 1 anh chàng đầy tớ ghét fụ nũ và chán ngán cuộc sống chính mình.Phần lời do 1 nhà văn do thái rất nổi tiếng cùng thời viết suu tam